HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ LÀ GÌ? CÓ GIÁ TRỊ NHƯ THẾ NÀO?
Hợp đồng lao động điện tử là gì? Có giá trị như thế nào?
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Một trong các hình thức giao kết hợp đồng lao động hiện nay là giao kết thông qua phương thức điện tử. Vậy hợp đồng lao động điện tử là gì? Có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản hay không?
Hợp đồng lao động điện tử là gì?
Trước hết, theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 giải thích hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Còn theo Điều 33 Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định.
Thông điệp dữ liệu chính là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lữu trữ bằng phương tiện điện tử, tức là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.
Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận hợp đồng lao động điện tử là thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, trong đó quy định điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động bằng phương thức điện tử thay vì theo phương thức truyền thống (văn bản).
Giá trị của hợp đồng lao động điện tử như thế nào?
Tại Điều 14 Bộ luật Lao động 2019 quy định về hình thức hợp đồng lao động như sau:
“Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này.”
Như vậy theo quy định hiện hành có ba hình thức giao kết hợp đồng lao động là bằng văn bản, lời nói và giao kết thông qua phương tiện điện tử.
Theo đó, việc bạn và công ty giao kết hợp đồng lao động theo phương thức điện tử là đúng theo quy định của pháp luật. Hợp đồng lao động điện tử cũng sẽ có giá trị pháp lý như khi ký hợp đồng bằng văn bản.
Bộ luật Lao động 2019 kế thừa quy định tại Bộ luật Lao động 2012 là tiếp tục ghi nhận hai hình thức của hợp đồng là bằng văn bản và bằng lời nói, đồng thời bổ sung thêm hình thức hợp đồng lao động điện tử.
Có thể thấy sự bổ sung này phù hợp với xu thế phát triển của quan hệ lao động trong bối canh khoa học công nghệ đang phát triển. Hơn nữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thêm lựa chọn giúp quá trình giao kết hợp đồng được thuận tiện và linh hoạt hơn.
Điều kiện để hợp đồng lao động điện tử có hiệu lực là gì?
Ngoài các điều kiện về nội dung hợp đồng, nguyên tắc ký kết hợp đồng… thì khi người lao động và người sử dụng lao động lựa chọn giao kết hợp đồng lao động qua phương tiện điện tử cần đáp ứng đầy đủ điều kiện của văn bản điện tử và chữ ký số được sử dụng.
Theo Điều 13 Luật Giao dịch điện tư 2005 quy định về thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc như sau:
“Điều 13. Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc
Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:
1. Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh.
Nội dung của thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;
2. Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.”
Còn theo khoản 6 Điều 3 Nghị định 130/2018/NĐ-CP giải thích chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó, người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác.
Như vậy, khi giao kết hợp đồng lao động điện tử bạn cần lưu ý nhất về chữ ký số của mình, đảm bảo chữ ký đó có giá trị pháp lý.Những lợi ích và phòng tránh rủi ro khi giao kết hợp đồng lao động điện tử
Lợi ích
Việc bạn và công ty lựa chọn giao kết hợp đồng lao động theo phương thức điện tử đem lại nhiều lợi ích, cụ thể:
Hai bên không cần phải gặp mặt trực tiếp để ký kết hợp đồng, giúp tự chủ được thời gian, tiết kiệm công sức, chi phí bao gồm cả chi phí in hợp đồng để ký và lưu trữ.
Giúp cho việc lưu trữ, quản lý, báo cáo nhân sự được thuận tiện, nhanh chóng và chính xác hơn.
Phòng tránh rủi ro
Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng lao động điện tử bạn cũng cần lưu ý đến giá trị của chữ ký điện tử.
Bạn cần thực hiện các biện pháp để kiểm tra mức độ tin cậy của một chữ ký điện tử trước khi chấp nhận chữ ký đó. Xác minh giá trị pháp lý của chứng thư điện tử và các hạn chế liên quan tới chứng thư điện tử trong trường hợp công ty sử dụng chứng thư điện tử để chứng thực chữ ký điện tử.
Theo khoản 1, 2 Điều 79 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định:
“Điều 79. Nghĩa vụ kiểm tra hiệu lực chứng thư số, chữ ký số khi nhận thông điệp dữ liệu được ký số
1. Trước khi chấp nhận chữ ký số của người ký, người nhận phải kiểm tra các thông tin sau:
a) Trạng thái chứng thư số, phạm vi sử dụng, giới hạn trách nhiệm và các thông tin trên chứng thư số của người ký;
b) Chữ ký số phải được tạo bởi khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trên chứng thư số của người ký;
c) Đối với chữ ký số được tạo ra bởi chứng thư số nước ngoài được cấp giấy phép sử dụng tại Việt Nam, người nhận phải kiểm tra hiệu lực chứng thư số trên cả hệ thống của Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia và hệ thống của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài cấp chứng thư số đó.
2. Người nhận phải thực hiện quy trình kiểm tra như sau:
a) Kiểm tra trạng thái chứng thư số tại thời điểm thực hiện ký số, phạm vi sử dụng, giới hạn trách nhiệm và các thông tin trên chứng thư số đó theo quy định tại Điều 5 Nghị định này trên hệ thống kỹ thuật của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đã cấp chứng thư số đó;
b) Trong trường hợp người ký sử dụng chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cấp: Kiểm tra trạng thái chứng thư số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đã cấp chứng thư số đó tại thời điểm thực hiện ký số trên hệ thống kỹ thuật của Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;
c) Chữ ký số trên thông điệp dữ liệu chỉ có hiệu lực khi kết quả kiểm tra tại các khoản 1 và 2 Điều này đồng thời có hiệu lực.”
Nói tóm lại, giữa bạn và công ty giao kết hợp đồng lao động điện tử là đúng quy định pháp luật và đồng thời hợp đồng này có giá trị như hợp đồng bằng văn bản. Tuy nhiên đây là hình thức hợp đồng lao động mới nên bạn cần lưu ý về nghĩa vụ kiểm tra chữ ký trước khi tiếp nhận chữ ký để phòng tránh rủi ro về sau.